|
I. Bối cảnh, lợi thế và cơ hội phát triển
Giai đoạn 2001 – 2010 là giai đoạn Hà Nam cùng cả nước đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tiếp tục phát triển nền kinh tế thị trường theo hướng mở cửa và hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh như vậy, Hà Nam có những lợi thế và cơ hội phát triển to lớn.
1. Hà Nam nằm trong vùng ảnh hưởng của Thủ đô Hà Nội và trọng điểm kinh tế Bắc bộ (Hà Nội – Hải Phòng – Hạ Long). Dự báo trong giai đoạn 2001 đến 2010 tốc độ tăng trưởng ở vùng này có thể đạt khoảng 13 – 14%/năm. Trong vùng sẽ hình thành khoảng hơn 20 khu công nghiệp tập trung với diện tích 10 – 11 nghìn ha và hình thành chuỗi đô thị vệ tinh phía Tây – Tây Nam Hà Nội (từ Sơn Tây – Hòa Lạc – Xuân Mai – Miếu Môn kéo dài đến Phủ Lý). Dân số của toàn vùng sẽ tăng và dân số đô thị tăng lên khoảng 4,5 triệu. Sự phát triển nhanh của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và của Thủ đô Hà Nội sẽ tác động cộng hưởng mạnh đến kinh tế – xã hội Hà Nam và các tỉnh khác trong vùng trên các mặt:
-
Tạo ra sự liên kết các thị trường và sự hội nhập của kinh tế Hà Nam vào thị trường trong vùng và cả nước. Điều này không chỉ tạo ra cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản, thực phẩm, xi măng, đá và vật liệu xây dựng vốn được coi là thế mạnh phát triển của Hà Nam, mà còn mở ra cơ hội lớn hơn cho việc cung cấp, bổ sung các nguồn lực phát triển của tỉnh;
-
Sự phát triển và kết nối các hệ thống kết cấu hạ tầng theo hướng hiện đại hóa và đồng bộ hóa.
-
Mở ra khả năng (và xu hướng) chuyển dịch các dòng vốn đầu tư, sự phát triển lan toả của các trung tâm kinh tế, thương mại với sự chuyển dịch của các cơ sở công nghiệp đến các vùng ngoại vi. Đồng thời với xu hướng này là quá trình chuyển giao công nghệ kỹ thuật, thu hút lao động nông nghiệp ở các vùng nông thôn sang các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ và mở rộng khả năng khai thác các tài nguyên, nguồn lực trên toàn vùng.
-
Tạo ra sự giao lưu văn hóa, xã hội thúc đẩy nâng cao dân trí, văn hóa, giáo dục - đào tạo và các lĩnh vực xã hội khác.
Những tác động trên đây sẽ tạo cho Hà Nam khả năng, cơ hội và nguồn lực lớn hơn trong việc khai thác, phát huy các nguồn lực nội tại cũng như khai thác, thu hút các nguồn lực từ bên ngoài để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa và đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế xã hội của tỉnh.
2. Trong những năm đổi mới vừa qua và hiện nay, kinh tế xã hội Hà Nam đã có bước phát triển quan trọng, tạo nền tảng và tạo đà cho Hà Nam phát triển trong giai đoạn tới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
3. Các thể chế kinh tế xã hội tiếp tục được đổi mới, tăng cường. Các cấp chính quyền và nhân dân trong tỉnh đang và sẽ có những nỗ lực, quyết tâm to lớn trong việc xây dựng và phát triển quê hương Hà Nam ngày một giàu mạnh.
II. Mục tiêu và định hướng phát triển tổng quát
(Theo “Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Hà Nam đến năm 2010”)
Các mục tiêu chủ yếu có tính tổng quát về phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2010 được xác định là:
-
Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khoảng 13,3%/năm.
-
GDP bình quân đầu người đạt khoảng 9.175 nghìn đồng vào năm 2010, tăng hơn 3 lần so với năm 2000;
-
Tỷ lệ huy động ngân sách từ GDP đạt khoảng 17%/năm (trong cả giai đoạn);
-
Tỷ lệ tích lũy đầu tư từ GDP đạt khoảng 18%/năm trong cả giai đoạn.
-
Tỷ lệ đô thị hóa đến năm 2010 đạt 30%.
Đến năm 2010 căn bản không còn hộ nghèo, người nghèo, giảm tối đa số người thiếu và chưa có việc làm, cải thiện một bước quan trọng đời sống vật chất, văn hóa, xã hội của nhân dân, giảm tỷ lệ gia tăng dân số xuống còn khoảng 1,1%/năm trong giai đoạn 2001 – 2010 và cơ bản xóa bỏ các tệ nạn xã hội; giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng xuống dưới 15% (vào năm 2010); đảm bảo ổn định chính trị, xã hội và đảm bảo vững chắc quốc phòng, an ninh trong tỉnh.
Các ngành và lĩnh vực kinh tế phát triển nhanh, vững chắc, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung phát triển các lĩnh vực kết cấu hạ tầng then chốt, các ngành và vùng kinh tế động lực, mũi nhọn có tác động quan trọng đến phát triển kinh tế xã hội chung của toàn tỉnh.
III. Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến năm 2010
-
Tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản trong GDP sẽ giảm từ 41,3% năm 2000 xuống còn khoảng 16,3%;
-
Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng nhanh, từ 28,5% năm 2000 lên 42% và
-
Tỷ trọng các ngành dịch vụ tăng từ 30,2% lên 41,7% vào năm 2010.
Dự báo chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh Hà Nam đến năm 2010. Đơn vị tính %
|
Chỉ tiêu
|
2000
|
2005
|
2010
|
|
Tổng GDP
|
100,0
|
100,0
|
100,0
|
|
Công nghiệp và Xây dựng
|
28,5
|
34,0
|
42,0
|
|
Nông, lâm nghiệp, thủy sản
|
41,3
|
32,0
|
16,3
|
|
Các ngành dịch vụ
|
30,2
|
34,0
|
41,7
|
(Nguồn: Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hà Nam đến năm 2010 và Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XVI).
Đến năm 2010, nền kinh tế của Hà Nam sẽ cơ bản hình thành cơ cấu: Công nghiệp – Dịch vụ – Nông nghiệp.
|